|
“BỆNH VÀNG LÙN” HẠI LÚA TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG
Tiến sĩ Phạm văn Dư
Bộ Môn Bệnh cây, Viện Nghiên Cứu Lúa ĐBSCL
Email: phamvandu@hcm.vnn.vn
I. Tình hình
chung:
Triệu chứng vàng
và lùn cây lúa là một dạng đặc trưng của một bệnh do virut hoặc
mycoplasma gây ra do rầy xanh đuôi đen (Nephottetis virescens và
Nephotettis nigropictus) là môi giới truyền bệnh đã được ghi
nhận từ lâu, khoảng năm 1969 ở Ấn Độ, Bangladesh, Philippines,
Thái Lan, Indonesia và Nhật Bản. Bệnh được gọi là Tungro nếu tác
nhân là do virút ở 2 dạng gọi là RTSV (Rice Tungro Spherical
Virus) và dạng RTBV (Rice Tungro Bacilliform Virus, nhưng nếu
tác nhân là Mycoplasma thì gọi là bệnh Vàng lụi. Ở Miền Bắc Việt
nam, bệnh dược ghi nhận trong những năm 1964, 1966 và 1970 trên
giống Mộc Tuyền với diện tích khá lớn khoảng 50.000 ha.
Một số bệnh trên
lúa do virut gây ra mà rầy nâu là môi giới truyền bệnh. Có 2
dạng phổ biến là Lùn xoắn lá (Rice Ragged Stunt Virus) và một
bệnh khác là Lùn Lúa Cỏ (Rice Grassy Stunt). Hai bệnh do Rầy
Nâu truyền có triệu chứng rất đặc trưng là cây lúa cũng bị lùn
hẳn. Lùn, đẻ ít chồi và đặc biệt là lá bị xoăn lại, bông ngắn
hoặc trổ không thoát đó là Lùn xoăn lá, rất phổ biến, bệnh xuất
hiện theo sau những trân dịch của rầy nâu, hầu hết bà con nông
dân đều biết và gọi đúng tên. Đối với bệnh Lùn lúa cỏ thì ngược
lại, sau khi cây lúa bị nhiễm bệnh do rầy nâu chích hút và
truyền bệnh thì bụi lúa có khuynh hướng bị lùn hẳn và đặc trưng
là đẻ rất nhiều chồi như bụi cỏ, trên dồng ruộng, bệnh Lùn lúa
cỏ thường có tỉ lệ ít hơn bệnh Lùn xoăn lá. Như vậy nếu môi giới
truyền bệnh là rầy nâu thì cho đến nay chỉ có hai bệnh là lùn
xoăn lá và lùn lúa cỏ mà triệu chứng đặc trưng như đã mô tả, vẫn
chưa có ghi nhận nào mới.
TRIỆU CHỨNG VÀNG LÙN

Tuy nhiên, ở Đồng
bằng sông Cửu Long, từ năm 1989 có xuất hiện một triệu chúng cây
lúa bị Vàng và Lùn, tỉ lệ nầy có thể từ 5-10 % hoặc 50 % trên
một số giống và một số ruộng, một số giống như OM CS 96, OM
997-6, OM 1248 được ghi nhận nhiễm bệnh..Tuy nhiên điều đáng
quan tâm ở đây là triệu chứng trên lại có cùng đỉnh cao xuất
hiện của quần thể rầy nâu ?. như vậy có thể đây là một bệnh mới
cần có những nghiên cứu để kết luận nhằm tránh sự lây lan bệnh
trên diện rộng. Bệnh xuất hiện thông thường với tỉ lệ rất thấp,
có những năm gây hại khá lớn
Ngày 21 tháng 1
năm 2000, Thứ Trưởng Bộ Nông Nghiệp Ngô Thế Dân có gửi công văn
cho các Sở Nông Nghiệp và PTNT, Viện Trường các tỉnh phía nam,
thông báo về tình hình bệnh vàng lùn xuất hiện cùng với sự bùng
phát của dịch rầy nâu. Đến cuối tháng 12-1999 có 13.120 ha lúa
bị nhiễm ở các tỉnh Bến tre, TP Hồ chí Minh, Bạc Liêu và Long
An, riêng TP HCM có 242 ha bệnh vàng lùn và không trổ được. Bộ
NN và PTNT giao nhiệm vụ cho Cục BVTV chủ trì phối hợp với Viện
khoa học NN Miền Nam và Viện lúa ĐBSCL tổ chức thực hiện nghiên
cứu và xác định tác nhân bệnh vàng lùn, quy luật phát sinh và
phát triển của bệnh liên quan đến rầy nâu. Trong năm 1999, Hội
nghị Cục BVTV phía Nam gọi là bệnh “Vàng Lùn”, chưa rõ tác nhân
Vừa qua, từ đầu
vụ Hè thu 2006 dịch bệnh lại phát triển và lan rộng trên hầu hết
các tỉnh ĐBSCL, với mật số rầy nâu rất cao, diện tích bị nhiễm
bệnh vàng lụi riêng tại Đồng Tháp với thiệt hại < 30 % là 613
ha, và > 30 % là 2636 ha trong đó thiêu huỷ khoảng 500 ha.
II. Tình hình
nghiên cứu và kết quả bước đầu về xác định tác nhân:

Kết quả nghiên
cứu từ Bộ môn BVTV, trường Đại Học Cần Thơ gọi là “bệnh lúa cỏ
dòng -2” từ các thí nghiệm về truyền bệnh Rầu nâu với cây lúa
khỏe (PGS Phạm văn Kim).
Ở Viện lúa ĐBSCL,
trong những năm đó còn thiếu phương tiện, nhất là máy đọc ELISA
và kháng huyết thanh của một số dòng virus trên lúa như Tungro (RTSV,
RTBV), Lùn xoăn lá (RRSV) Lùn lúa cỏ (RGGSV), Vàng lụi (RDV,
rice dwarf virus), cho nên chỉ tiến hành thu thập mẫu bệnh và
gửi sang Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI, Philippines, do Tiến
sĩ Ossmat Azzam, virologist của bộ môn Bệnh cây thực hiện, từ
tháng 4-1996 đến tháng 1-1997, trong tổng số 163 mẫu, có phản
ứng dương tính với 3 loại virut RTBV, RTSV (Tungro) và Lùn xoăn
lá RRSV với tỉ lệ rất thấp 4 mẫu/140.
Tháng 1-2005,
chúng tôi mời Tiến sĩ R.C. Cabunagan và I.R. Choi, 2 nhà virus
học của Viện IRRI sang, kết quả phân tích cho thấy trong số 52
mẫu lúa bị bệnh, chỉ có 1 mẫu có phản ứng dương tính với RTSV (tungro),
và 7 mẫu với bệnh Lùn lúa cỏ (RGSV)
Tháng 3-2006,
tôi có mời thêm Tiến sĩ Hong Soo Choi, chuyên về virut, bộ môn
bệnh cây, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Nghiệp Quốc gia, Suwon,
Korea cùng Tiến sĩ I. R. Choi của IRRI, sang lấy mẫu và tiếp
tục thực hiện các giám định về bệnh bằng PCR và thực hiện giải
mã (sequencing). Kết quả về kháng huyết thanh cho thấy có nhiều
triển vọng để có thể đi đến những kết luận bước đầu. Kết quả mẫu
bệnh vàng lùn thu thập được tại Tiền Giang do Trung Tâm BVTV
Phía nam hướng dẩn và lấy mẫu, Chi Cục BVTV An Giang hướng dẩn
và thu mẫu: 2 mẫu/30 có phản ứngvới Tungro RTSV, 27/30 mẫu có
phản ứng với Lùn lúa cỏ, 19/30 mẫu có phản ứng với Lùn xoăn lá
trên cùng cây lúa bị bệnh.
III. Kết luận:
Như vậy sau gần
17 năm xuất hiện và 10 năm nghiên cứu, cho đến bây giờ chúng ta
có thể kết luận bước đầu: Bệnh vàng lùn là một bệnh mới do sự
phối trộn của 3 loại virut là Lùn Lúa cỏ, Lùn xoăn lá truyền
bệnh do rầy nâu và Tungro do rầy xanh truyền bệnh . Thí nghiệm
lây bệnh trở lại do Tiến sĩ I.R. Choi thực hiện tại nhà lưới
IRRI với sự phối trộn của 3 loại virút trên cho cùng triệu chứng
như đã thấy ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Những kết quả nghiên cứu
về virút sử dụng PCR và sequencing sẽ được thông báo sau.
TS. Phạm Văn Dư, TS Roger và cán bộ Chi cục BVTV An Giang
thu thập mẫu để giám định bệnh vàng lùn
IV. Phương hướng khắc phục
Kinh nghiệm ở
Philippines cho thấy, khi bệnh virút Tungro có xu hướng phát
triển mạnh trên giống IR 64 thì diện tích sản xuất giống lúa nầy
giảm từ 70.000 ha (1992) cho đến 2002 thì hầu như không có nông
dân nào trồng giống IR 64. Bệnh do virút gây ra là một bệnh rất
khó trị và không có loại thuốc hoá học đặc trị nào như các dạng
bệnh khác.Bệnh vàng lùn mới hiện nay phức tạp hơn vì liên quan
nhiều thành phần trong hệ sinh thái như: (1) Quần thể rất cao
của Rầy nâu, (rầy xanh) (2) Sự phối hợp của 3 loại virút (xoăn
lá, Lúa cỏ và Tungro) (3) Môi trường sản xuất thâm canh, nhiều
vụ kéo dài liên tục, bón phân đạm cao và (4) Giống lúa nhiễm rầy,
nhiễm virút. Do đó cần thực hiện một số biện pháp sau:
-
Trước hết
phải thực hiện canh tác lúa theo tinh thần 3 G, 3 T, trong
đó không bón thừa N, giảm mật độ sạ cấy, giảm sử dụng thuốc
hóa học nhằm tạo thế cân bằng sinh học trên diện rộng, bón
phân cân đối tạo sức đề kháng cho cây lúa, sạ cấy thưa tạo
điều kiện cho ánh sáng xuyên qua tán, sương mù sẽ tan nhanh
trên lá, do nhiệt độ tăng, ẩm độ giảm trong tán tạo thế bất
lợi cho sâu bệnh phát triển.
-
Cày bỏ ngay
số diện tích lúa bị nhiễm bệnh, vì rầy nâu có thể tiếp tục
chích hút cây lúa bị bệnh và mang virút phát tán đi nới khác,
cây lúa bị bệnh còn tồn tại trên ruộng sẽ là mầm móng chứa
virút, cày ải phơi đất sẽ diệt mầm virút trong gốc rạ.
-
Không trồng
giống nhiễm Rầy, nhiễm virút trên diện rộng (?)
-
Gieo sạ đồng
loạt trên diện rộng lớn, nhằm hạn chế di chuyển của quần thể
rầy, do chuyển tiếp nguồn thức ăn cho nên rầy mang virút lây
lan ra diện rộng, do vậy không nên gieo trồng rãi rác có
liên quan đến vụ 3, chỉ nên tập trung 2 vụ. Dịch bệnh vàng
lùn có liên quan mật thiết đến thời vụ gieo sạ liên tục trên
ruộng, cả không gian và thời gian đều tối hảo để dịch bệnh
phát tán.
-
Tăng cường
sức đề kháng của lúa đối với virút, sử dụng một số chất kích
kháng có thể hạn chế sự phát triển của virút trong cây lúa
như K2HPO4, CuCl2 cho xử lý hạt, Humid acid (Risopla V)
1-1,5 kg/ha bón lót thì càng tốt.
-
Giống kháng
là biện pháp có hiệu quả kinh tế nhất, giống kháng đối với
rầy nâu chưa hẳn là kháng đối với virut, hơn nửa bệnh vàng
lùn là sự phối hợp của 3 loại virút (Xoăn lá, lúa cỏ và
Tungro) do vậy công tác thanh lọc giống kháng là khá phức
tạp. Viện lúa cần có sự hổ trợ về kinh phí để thực hiện các
nghiên cứu nầy.
-
Sử dụng thuốc
hóa học có thể làm giảm mật số rầy nhưng vẫn không thể giải
quyết được bệnh vàng lùn, vì sự truyền bệnh có thể xãy ra
giửa rầy-và cây lúa trong khoảng thời gian rất ngắn.
Các Viện, Trường
cần hợp tác trong nghiên cứu phòng trừ bệnh vàng lùn như:
-
Giống kháng
bệnh vàng lùn
-
Thời gian
gieo sạ đồng loạt và thích hợp, phối hợp trên diện rộng
-
Virut gây
bệnh vàng lùn, thời gian truyền bệnh (mode), thời gian ủ
bệnh
-
Quan hệ sinh
học về phát sinh phát triển giữa virút và rầy nâu-rầy xanh
-
Các biện pháp
canh tác học đối với bệnh vàng lùn
-
Ứng dụng đa
dạng sinh học trong phòng trừ bệnh
V. Tài Liệu
Tham Khảo
Phạm văn Dư, RC
Cabunagan and IR Choi (2005). Rice Yellowing Syndrone in Mekong
River Delta. OMonrice 13: 135-138
OU.SH (1984).
Rice diseases
|