|
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ VỊ TRÍ CÂY LÚA
ĐBSCL là châu thổ
sông Mê Kông có tiềm năng về tài nguyên đất, nước, rừng ngập mặn,
thủy hải sản đa dạng và phong phú. Đồng bằng có diện tích tự
nhiên 4 triệu ha, bao gồm 1,7 triệu ha canh tác lúa, 3,9 triệu
ha gieo trồng lúa (năm 1999). Năm 1990, ĐBSCL sản xuất 11 triệu
tấn lúa, năm 1999 sản lượng này đã tăng vọt xấp xỉ 17 triệu tấn.
ĐBSCL có 1,68
triệu ha đất phèn (chiếm 44% diện tích chung), tập trung ở Đồng
Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên. Đất phù sa có 1,16 triệu ha (chiếm
30%) tập trung dọc theo hai bờ sông Tiền, sông Hậu. Đất mặn ven
biển có 0,70 triệu ha (chiếm 18%), canh tác lúa nước trời hoặc
trồng rừng ngập mặn, và các loại đất khác còn lại chiếm 8%
ĐBSCL nằm trong
vùng khí hậu ôn hòa, ít có bão lớn xảy ra, nhiệt độ trung bình
270C, nhiệt độ tối thiểu trung bình 250C, nhiệt độ tối đa trung
bình 330C, trung bình giờ chiếu sáng hàng năm là 2500 giờ, ít
nhất là 2200 giờ, năng lượng bức xạ mặt trời 450 calo / cm2 /
ngày, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cây
lúa. Lương mưa trung bình hàng năm 1500-2000 mm, nhưng phân bố
không đều giữa các vùng trong đồng bằng. Nơi có lượng mưa nhiều
nhất là bán đảo Cà Mau, và ít nhất là một phần của Gò Công, Bến
Tre. 90% lượng mưa xảy ra từ tháng Năm đến tháng Mười. Lũ lụt
xảy ra từ cuối tháng Tám kéo dài đến tháng Mười Một. Cao trình
mặt ruộng trung bình thấp hơn 1m so với mặt biển. Cư dân vùng
nước lũ có tập quán sống trên nhà sàn, là hình ảnh tiêu biểu của
ĐBSCL.
Cây lúa có vị trí
quan trọng đặc biệt ở ĐBSCL, đóng góp 50% sản lượng lúa cả nưóc
và 80% gạo xuất khẩu; kế đến cây ăn trái, mía đường, thủy hải
sản, chăn nuôi vịt, trâu bò, heo,... Rừng ngập mặn ở đồng bằng
là một minh chứng về đa dạng sinh học của Châu Thổ, có vai trò
rất lớn trong việc bảo tồn và phát triển hệ sinh thái đặc sắc
của đồng bằng.
Thế kỷ thứ 17,
ĐBSCL bắt đầu được khai thác với sự có mặt của tổ tiên chúng ta
từ đất Bắc đi vào, mang theo bộ giống lúa cổ truyền từ nhiều
nguồn khác nhau. Thực dân Pháp và các nhà truyền giáo mang đến
đây một ít giống lúa ở nơi nào đó trên thế giới mà họ đã đi qua.
Cư dân địa phương có thể đã trao đổi giống với các nước láng
giềng Thái Lan, Cambodia, Mã Lai, Indonesia. Ngần ấy tạo cho bộ
giống lúa địa phương ở đây phong phú vô cùng (khoảng 2000 giống
lúa) với các loại hình canh tác lúa sạ, lúa cấy hai lần, cấy một
lần,.. trên đất đầm lầy. Bên cạnh đó, hàng trăm quần thể lúa
hoang dại cũng có thể đã được thuần hóa, với sự đa dạng di
truyền hiếm có, tạo thành nguồn vật liệu qúi giá mà tổ tiên đã
để lại cho chúng ta bây giờ. Trong thời Pháp thuộc, Việt Nam đã
là nước xuất khẩu gạo có tiếng ở khu vực và trên thế giới. Người
Pháp đã lập ra Sở Túc Mễ Đông Dương, là cơ quan nghiên cứu lúa
gạo đầu tiên phục vụ cho mục tiêu đó. Sau này, Sở Lúa Gạo của
chính quyền Sài Gòn đảm trách với hai Trung Tâm nghiên cứu lúa
là Long Định (Mỹ Tho), và Bình Đức (An Giang).
Mục tiêu phát
triển chiến lựơc của Việt Nam vào năm 2010 là 40 triệu tấn
lương thực và 38 triệu tấn lúa gạo trong điều kiện diện tích
canh tác lúa cả nước chỉ còn 4 triệu ha. Điều này đặt ra cho
ĐBSCL một nhiệm vụ mới, với sự phấn đấu cao hơn, làm sao vừa
tiếp tục nâng cao năng suất / ha, vừa tăng nhiều hơn thu nhập
cho nông dân, vốn rất nghèo nếu họ chỉ canh tác lúa như hiện
nay.
GIỚI THIỆU VIỆN
Viện
Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là đơn vị nghiên cứu
và đào tạo về lĩnh vực nông nghiệp nông thôn trực
thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn. Viện được
thành lập ngày 8 tháng 1 năm 1977 theo quyết định số 41
NN-TC/QĐ, với tên gọi ban đầu là Trung Tâm Kỹ thuật
Nông nghiệp ĐBSCL, tại xã Thới Thạnh, huyện Ô Môn tỉnh Cần
Thơ với tổng diện tích 360 ha.
Đến năm 1985, Viện chính thức
đổi tên thành Viện Lúa ĐBSCL theo Quyết định số
24/CT ngày 09 tháng 01
năm1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Từ khi thành lập đến nay Viện
đã được sự quan tâm và đầu tư rất lớn của Chính phủ, địa
phương và sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài
nước nhằm phấn đấu xây dựng một cơ sở khoa học có tầm cỡ
quốc gia và quốc tế, phục vụ yêu cầu sản xuất nông nghiệp
cho vùng ĐBSCL và cả nước, đặc biệt là lúa gạo.
Với những đóng góp đáng kể
trong nghiện cứu và sản xuất nông nghiệp, từ năm 2002 trở đi
Viện được Bộ Nông nghiệp & PTNT cho phép mở rộng chức năng
hoạt động thành Viện nghiên cứu nông nghiệp vùng.
|