|
<<Trang
>>
IN TỨC VÀ SỰ KIỆN
(Từ ngày 18/05/2008 - 24/05/2008)
Tin tức khoa học
Thực
trạng sản xuất và cung ứng giống lúa tại ĐBSCL. PGS. TS.
Dương Văn Chín "xem
chi tiết"
Lai tạo
chọn lọc và nhân giống lúa các tỉnh phía Nam từ khi bắt đầu cuộc
cách mạng xanh đến nay. PGS. TS. Dương Văn Chín "xem
chi tiết"
Bón
phân hợp lư cho lúa Hè Thu và Thu Đông tại ĐBSCL.
PGS. TS. Dương Văn Chín "Xem chi tiết"
Ảnh hưởng
của mức đạm đến sự sinh trưởng và năng suất ngô lai. PGS. TS.
Dương Văn Chín. "Xem chi tiết"
Nghiên cứu
so sánh hệ thống Lúa - Bắp - Lúa với hệ thống Lúa - Lúa -
Lúa ở ĐBSCL. PGS. TS. Dương Văn Chín "xem
chi tiết"
Thông
tin về hội thi máy gặt đập liên hợp vùng ĐBSCL lần I– 2008 tại
Đồng Tháp. TS. Hoàng Bắc Quốc. "xem
chi tiết"
Chuẩn bị hạt
giống lúa cho năm 2008 vùng đồng bằng sông Cửu Long từ sản phẩm
thu hoạch vụ Đông Xuân 2007-2008. PGS. TS.
Dương Văn Chín
"xem
chi tiết"
Thực trạng và viễn cảnh
trồng bắp lai luân canh trên chân đất lúa vùng đồng bằng sông
Cửu long. PGS. TS. Dương Văn Chín "xem
chi tiết"
Rau hữu cơ và rau an toàn.
PGS. TS. Dương Văn Chín "xem chi tiết"
Enzyme phân giải tinh bột của khoai tây biến đổi gen:
β-Amylase
là một trong những enzyme chủ lực trong thủy phân tinh bột.
Enzyme này được xem như vô cùng quan trọng trong công nghiệp sản
xuất đường malt và thực phẩm lên men, cũng như bia. Hoạt tính
của β-amylase tăng theo nhiệt độ đến mức tối hảo là 60°C. Nhiệt
độ cao hơn nữa, enzyme sẽ bị biến tính và mức độ chuyển đổi sẽ
giảm. Do đó, β-amylase duy tŕ hoạt tính tối đa ở nhiệt độ mà
công nghệ yêu cầu. Một nhóm khoa học gia của Đài Loan đă phát
triển thành công giống khoai tây biến đổi gen thể hiện
Bêta-amylase có tính chất thích nghi nhiệt độ. Họ thể hiện thành
công bốn gen khảm được phân lập trên vi khuẩn có tính chất chịu
nhiệt, trong tế bào chất, amylopast (cơ quan dự trữ tinh bột) và
không bào. 23 ḍng khoai tây chuyển gen biểu hiện sự tích tụ cao
β-amylase. Tuy nhiên, trên đồng ruộng, ảnh hưởng bất lợi có thể
thấy rơ là sự h́nh thành và phát triển củ khoai bị biến dạng,
thành phần chất biến dưỡng bị thay đổi. Họ đang t́m cách giảm
thiểu ảnh hưởng này trên cây biến đổi gen về phẩm chất củ. Xem
tạp chí Plant Science
Thuốc lá biến đổi gen thể hiện vaccine đối với bệnh ung thư ṿm
họng:
Cervical cancer (ung thư ṿm họng, cổ) là một trong những bệnh ung thư
phổ biến ở các nước đang phát triển và là bệnh ung thư phổ biến
thứ hai đối với phụ nữ. Hầu hết các bệnh ung thư cổ do virus HPV
gây ra (human papillomavirus: HPV). Mặc dù người ta đă có
vaccine trên cơ sở phân tử giống như virus (virus-like
particles) nhiều hơn là HPV, có tính chất tiết giảm
(attenuated), nhưng giá thành rất đắc tiền làm hạn chế sự phổ
biến đại trà, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Các nhà khoa
học t́m cách sản xuất vaccine rẻ tiền hơn. Ở Pháp và Tây Ban
Nha, họ đă phát triển thành công cây thuốc lá biến đổi gen thể
hiện HPV protein L1. L1 là một dạng protein kiến trúc của vỏ
ngoài virus (viral capsid) có nhiệm vụ tập họp nhau lại để h́nh
thành VLP (virus-like particles) không lây nhiễm. V́ nó có thể
kích thích sự đáp ứng của cả tế bào và dịch bào, cho nên VLPs là
những ứng cử viên đầu tiên trong sản xuất vaccine HPV. Gen của
virus mă hóa protein L1 thể hiện đặc biệt trong thể lạp. Chuyển
nạp gen vào thể lạp có nhiều thuận lợi như giữ được transgene,
không có hiện tượng im lặng gen, cho năng suất protein tái tổ
hợp cao. Sự thể hiện cao protein L1, khoảng 24 % protein ḥa tan
tổng số, được ghi nhận trong cây chuyển gen. Các thí nghiệm về
miễn dịch học cho thấy protein tái tổ hợp này và kết quả trên
VLPs có tính chất miễn dịch rất cao. Xem tạp chí Plant
Biotechnology
Brassinosteroids và sự đáp ứng với nước:
Brassinosteroids (BRs),
là một nhóm hormone thảo mộc được xác định đầu tiên vào năm 1973
trên hạt cây cải dầu. Người ta biết đó là hormone có vai tṛ
quan trọng trong nhiều tiến tŕnh phát triển thí dụ như sự chín
của quả, sự kéo dài tế bào và sự h́nh thành ống phấn. Những
phytohormones này cũng làm gia tăng tính kháng của cây đối với
stress, thí dụ như lạnh và khô hạn. Phun lên cây chất BRs sẽ
giúp cây cải tiến sự đáp ứng với nước tốt hơn. Tuy nhiên, người
ta vẫn chưa biết những thay đổi có tính nội sinh của BR đối với
sự đáp ứng của cây với t́nh trạng thiếu nước. Các nhà khoa học
thuộc ĐH Tasmania, Australia, sử dụng cây đậu Hà Lan đột biến có
gen mă hóa BR. Họ t́m thấy những BR có hoạt tính sinh học không
thay đổi một cách ư nghĩa trong suốt thời gian bị stress do
thiếu nước. Điều này cho thấy đáp ứng của cây đối với khô hạn
không phải do sự thay đổi nồng độ BRs. Các nhà nghiên cứu ghi
nhận thiếu các gen mă hóa BR sẽ không ảnh hưởng đến số lượng của
hormone ABA tạo ra khi cây bị stress cũng như những thông số
tăng trưởng bao gồm khả năng giữ nước, kích thước lá, chiều cao
cây. Xem tạp chí Physiologia Plantarum
ARS thuộc Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ phát triển giống đậu phụng kháng
tuyến trùng, kháng virus:
Cơ quan ARS (Agriculture Research Service) thuộc Bộ
Nông Nghiệp Hoa Kỳ vừa phóng thích một giống đậu phụng mới giúp
nông dân kiểm soát được hai vấn đề hệ trọng nhất trong sản xuất
đậu phụng. Con lai mới Tifguard, là giống đậu phụng đầu tiên có
tính kháng cả hai đối tượng: tuyến trùng gây sưng rễ và virus
gây bệnh TSWV (tomato spotted wilt virus). Bệnh này làm hạn chế
năng suất đậu phụng tại Hoa Kỳ, năng suất mất đi ước khoảng một
triệu tấn / năm. Giống Tifguard không những kháng bệnh TSWV
trong so sánh năng suất trên đồng ruộng mà c̣n cho năng suất cao
hơn giống đối chứng (trồng ở vùng không có tuyến trùng). Hạt
giống Tifguard sẽ sẵn sàng cho nông dân trong vụ trồng năm 2009.
Thông Báo
Cơ sở dữ liệu trên mạng CropLife liên quan đến tiện ích của
Agri-biotech:
Hiện có hơn 80 tài liệu nghiên cứu được xuất bản và tổng hợp cho bạn
đọc nói về những tiện ích trong sử dụng sản phẩm công nghệ sinh
học nông nghiệp, chúng ta có thể truy cập on-line trên Benefits
Database được chia sẻ bởi Crop Life International thông qua
Biosafety Information Resource Center of the Biosafety Clearing
House (BCH). BCH là một h́nh thức trao đổi thông tin của
Cartagena Protocol on Biosafety
nhằm giúp cho các thành viên của hiệp định an toàn sinh học thực
hiện nội dung hiệp định. Cở sở dữ liệu này bao gồm loại cây
trồng, tính trạng công nghệ sinh học, quốc gia hoặc vùng lănh
thổ. Tất cả tài liệu công bố trên tạp chí hoặc do tổ chức nào đó
biên soạn đều được tóm tắt cho bạn đọc. Tiếp xúc Biotech
Benefits Database tại
http://www.croplife.org/
|