|
<<Trang
>>
TIN TỨC VÀ SỰ KIỆN
(Từ ngày 22/10/2007 - 28/10/2007)
Tin tức khoa học
Folate
Fortified Rice by Metabolic Engineering: Lúa gạo đóng góp 80%
calorie thu nhập mỗi ngày của khoảng 3 tỷ người. Tuy nhiên, lúa
gạo rất nghèo vitamin và nguyên tố vi lượng, ngay cả folates hay
vitamin B9. Sự khiếm dưỡng folate gây ra triệu chứng “spina
bifida” (hệ thống ống dẫn của thần kinh không đóng) xảy ra trong
trẻ con và hội chứng “megaloblastic anemia” (tế bào hồng cầu
không phát triển và không hoạt động trong tủy xương) xảy ra
trong người lớn. Folic acid được cung cấp trong gạo theo cách
thức “biofortification” (bù đấp sinh học) có thể là một minh
chứng về giải pháp khắc phục bệnh khiếm dưỡng folate ở các nước
đang phát triển. Một số nhà khoa học thuộc ĐH Ghent, Belgium
tuyển chọn được một số ḍng lúa japonica có thể tăng cường hàm
lượng folate bằng cách du nhập các gen mă hóa GTPCHI và ADCS
(enzymes cần thiết cho sinh tổng hợp folates) của Arabidopsis.
Cây lúa biến đổi gen này thể hiện kiểu h́nh tương tự cũng như
khả năng cho hạt giống như giống nguyên thủy. Hàm lượng folate
cao nhất được ghi nhận trong cây lúa biến đổi gen là 1.723
mg/100 g trọng lượng tươi, đây là hàm lượng folate cao nhất được
biết trong các loài thực vật cho đến nay. Đọc tạp chí Nature
Biotechnology tại
http://www.nature.com/nbt/journal/vaop/ncurrent/abs/nbt1351.html
hoặc
http://www.nature.com/nbt/journal/vaop/ncurrent/pdf/nbt1351.pdf
Sử dụng gen của cây Wildrye để chống lại
nitrit hóa của lúa ḿ: Nitrification hay hiện tượng nitrit hóa
là sự kiện ammonia bị oxid hóa biến thành nitrit, sau đó là
nitrat, tạo nên vấn đề hết sức nghiên trọng trong sản xuất nông
nghiệp do phân đạm rất đắt tiền bị mất đi trong ruộng. Nitrat
cũng dễ mất trong đất do hiện tượng rửa trôi. Những chất ức chế
nitrit hóa nhân tạo thí dụ như dicyandiamide và nitrapyrin, đang
được sử dụng để hạn chế thấp nhất sự mất đạm. Người ta sử dụng
vi khuẩn tái tổ hợp có tính chất phát quang “luminescent
bacterium”. Chúng có thể hoạt động để xác định hiện tượng ức chế
nitrit hóa như vậy tại cùng rễ. Hoạt động ức chế nitrit hóa
sinh học (BNI viết tắt từ chữ biological nitrification
inhibitor)được ghi nhận rất cao trong lúa ḿ và cây họ hàng với
lúa mạch Leymus (c̣n được gọi là mammoth wildrye). Leymus được
t́m thấy BNI compounds tương đương giá trị 52,5 g nitrapyrin /
ha / ngày. Các nhà khoa học của Japan, Australia và US đang
nghiên cứu khả năng chuyển gen BNI từ cây Leymus sang cây lúa
ḿ. Kết quả trước đó về chuyển tính kháng bệnh vào cây lúa mạch
rất thành công.Xem tạp chí Plant and Soil hoặc
http://www.springerlink.com/content/751756757j41r877/fulltext.pdf.
hoặc
http://www.springerlink.com/content/751756757j41r877/?p=21cf908d69fa4a6ca663ed5869609b3f&pi=6
Cây bắp GM thể hiện gen Phytase của vi nấm:
Phytic acid, một hóa chất có trong hạt mễ cốc, tạo ra hiệu quả
rất bất lợi cho dinh dưỡng của động vật và cho môi trường. Lân
trong hạt ngô có nhiều phytate sẽ làm cho gia súc thuộc nhóm
“monogastric” rất khó tiêu hóa, bởi v́ nó thiếu enzyme phytase.
Phosphate vô cơ cứ tiếp tục tăng cường vào dạng phosphor khác
trong hạt. Phytic acid được biết như một phức có khả năng kềm
giữa rất chặt chẽ ion sắt, kẽm, magnesium và potassium, ngăn cản
hấp thu các chất khoáng này của động vật. Phytic acid này được
động vật thăi ra dưới dạng phân được xem như nguồn gốc ô nhiễm P
trong nông nghiệp. Nhờ du nhập gen phyA2 của vi nấm
Aspergillus, các nhà nghiên cứu của Chinese Academy of
Agricultural Sciences đă ghi nhận được các ḍng bắp biến đổi gen
ổn định trong thể hiện enzyme phytase. Hoạt tính phytase trong
hạt bắp chuyển gen cao gấp 50 lần hơn so với giống bắp b́nh
thường. Tính chất nông học của các ḍng bắp biến đổi gen vẫn
không hề thay đổi và sự thể hiện phytase ổn định qua 4 thế hệ.
Xem tạp chí Transgenic Research
http://www.springerlink.com/content/ju8241521771j394/fulltext.pdf
hoặc
http://www.springerlink.com/content/ju8241521771j394/?p=6a8ab7085bd344d0a3e4d3792ce2655e&pi=2
Phân lập Ectomycorrhizae công sinh trên cây dầu
(Yang Tree): Cây dầu (Dipterocarpus alatus) một loài lâm nghiệp
có giá trị kinh tế cao và giá trị sinh học cao làm gỗ xuất khẩu
ở Thái Lan, với tên gọi địa phương là cây Yang. Rừng dầu đă bị
khai thác và tàn phá từ trước, việc khôi phục và trồng lại rừng
dầu được ưu tiên tropng chính sách phát triển. Cây dầu trở nên
vô dụng khi nó bị vi nấm ectomycorrhizal cộng sinh.
Ectomycorrhizae là sinh vật cộng sinh trên cây cho gỗ, giúp cây
hấp thu dinh dưỡng. Nó c̣n giúp cây chống chịu tốt với khô hạn,
bảo vệ rễ chống lại bệnh. Tuy nhiên, khả năng sử dụng nấm
ectomycorrhizal trong tái sinh rừng yêu cầu một kiến thức đầy đủ
về đa dạng sinh học và cách thức cộng sinh giữa cây với nấm.
Việc phân lập các symbionts của vi nấm trong ectomycorrhizae sẽ
vô cùng cần thiết. Các nhà khoa học thuộc ĐH King Mongkut’s về
Công Nghệ ở Thonburi, Thailand, đă phân lập thành công một loài
của ectomycorrhizae nhờ khuếch đại và đọc tŕnh tự “large
subunit rDNA” của ty thể bộ (mtLrDNA) của vi nấm cộng sinh, và
so sánh với tŕnh tự của ngân hàng dữ liệu để phân lập các
“symbionts”. Kết quả cho thấy hầu hết các vi nấm có nhiều nhất
đều thuộc họ Thelephoraceae (i.e. Tomentella spp.). Đọc chi tiết
http://safetybio.agri.kps.ku.ac.th/images/stories/pdf/ectomycorrhizal.pdf
|