TRANG CHỦ  |  Giới thiệu | Chức năng | Tổ chức  |  Nguồn lực  |  Liên hệ Liên kết  |  WEB MAIL  |  ENGLISH

Search WWW Search clrri.org

Chương tŕnh CNSH - Bộ Nông nghiệp & PTNT

 

Tuyển sinh đào tạo sau đại học nước ngoài ngành công nghệ sinh học nông nghiệp

 

Lễ đón nhận Huân chương Độc lập Hạng nh́ và kỷ niệm 30 năm thành lập Viện Lúa ĐBSCL

Chuyên trang về bệnh Vàng lùn, Lùn lúa cỏ

 

Dự án phát triển giống lúa xuất khẩu vùng đồng bằng sông Cửu Long 2006 -2010

 

Thông báo mời thấu Dự án giống lúa xuất khẩu

- Gói thầu xây lắp số 1

- Gói thầu xây lắp số 2

 

T́nh h́nh sâu bệnh hại lúa vụ HT2007 và tính chống chịu rầy nâu của các giống lúa

 

Giới thiệu máy thu hoạch lúa cho vụ Đông xuân 2006-2007 ở đồng bằng sông Cửu Long

 
Kết quả đánh giá giống HT07

Kết quả hội thi máy gặt đập liện hợp ĐBSCL 2007

 

Giới thiệu về CIRAD - Pháp

 

Thông tin ứng dụng công nghệ sinh học

Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân 2006-2007

 

Tạp chí OmonRice Số 14/2006

 

Thông báo tuyển sinh sau đại học năm 2007

 

Quy chế quản lư khoa học

 

Giống lúa cao sản trong t́nh h́nh bộc phát rầy nâu ở ĐBSCL

 

Tin tức về dịch rầy nâu 2006

 

Kết quả khảo nghiệm giống vụ DX06-07


Hội nghị về chọn tạo giống và dinh dưỡng IEAE-CLRRI

Thông báo tuyển sinh SĐH 2006

 

Qui tŕnh sản xuất lúa Xuất khẩu

 

Giống lúa được công nhận 2007

 

<<Trang >>

 

TIN TỨC VÀ SỰ KIỆN

(Từ ngày 22/10/2007 - 28/10/2007)

 

Tin tức khoa học

Folate Fortified Rice by Metabolic Engineering: Lúa gạo đóng góp 80% calorie thu nhập mỗi ngày của khoảng 3 tỷ người. Tuy nhiên, lúa gạo rất nghèo vitamin và nguyên tố vi lượng, ngay cả folates hay vitamin B9. Sự khiếm dưỡng folate gây ra triệu chứng “spina bifida” (hệ thống ống dẫn của thần kinh không đóng) xảy ra trong trẻ con và hội chứng “megaloblastic anemia” (tế bào hồng cầu không phát triển và không hoạt động trong tủy xương) xảy ra trong người lớn. Folic acid được cung cấp trong gạo theo cách thức “biofortification” (bù đấp sinh học) có thể là một minh chứng về giải pháp khắc phục bệnh khiếm dưỡng folate ở các nước đang phát triển. Một số nhà khoa học thuộc ĐH Ghent, Belgium tuyển chọn được một số ḍng lúa japonica có thể tăng cường hàm lượng folate bằng cách du nhập các gen mă hóa GTPCHI và ADCS (enzymes cần thiết cho sinh tổng hợp folates) của Arabidopsis. Cây lúa biến đổi gen này thể hiện kiểu h́nh tương tự cũng như khả năng cho hạt giống như giống nguyên thủy. Hàm lượng folate cao nhất được ghi nhận trong cây lúa biến đổi gen là 1.723 mg/100 g trọng lượng tươi, đây là hàm lượng folate cao nhất được biết trong các loài thực vật cho đến nay. Đọc tạp chí Nature Biotechnology tại http://www.nature.com/nbt/journal/vaop/ncurrent/abs/nbt1351.html hoặc http://www.nature.com/nbt/journal/vaop/ncurrent/pdf/nbt1351.pdf

Sử dụng gen của cây Wildrye để chống lại nitrit hóa của lúa ḿ: Nitrification hay hiện tượng nitrit hóa là sự kiện ammonia bị oxid hóa biến thành nitrit, sau đó là nitrat, tạo nên vấn đề hết sức nghiên trọng trong sản xuất nông nghiệp do phân đạm rất đắt tiền bị mất đi trong ruộng. Nitrat cũng dễ mất trong đất do hiện tượng rửa trôi. Những chất ức chế nitrit hóa nhân tạo thí dụ như dicyandiamide và nitrapyrin, đang được sử dụng để hạn chế thấp nhất sự mất đạm. Người ta sử dụng vi khuẩn tái tổ hợp có tính chất phát quang “luminescent bacterium”. Chúng có thể hoạt động để xác định hiện tượng ức chế nitrit hóa như vậy tại cùng rễ.  Hoạt động ức chế nitrit hóa sinh học (BNI viết tắt từ chữ biological nitrification inhibitor)được ghi nhận rất cao trong lúa ḿ và cây họ hàng với lúa mạch Leymus (c̣n được gọi là mammoth wildrye). Leymus được t́m thấy BNI compounds tương đương giá trị 52,5 g nitrapyrin / ha / ngày. Các nhà khoa học của Japan, Australia và US đang nghiên cứu khả năng chuyển gen BNI từ cây Leymus sang cây lúa ḿ. Kết quả trước đó về chuyển tính kháng bệnh vào cây lúa mạch rất thành công.Xem tạp chí Plant and Soil hoặc http://www.springerlink.com/content/751756757j41r877/fulltext.pdf. hoặc http://www.springerlink.com/content/751756757j41r877/?p=21cf908d69fa4a6ca663ed5869609b3f&pi=6

Cây bắp GM thể hiện gen Phytase của vi nấm: Phytic acid, một hóa chất có trong hạt mễ cốc, tạo ra hiệu quả rất bất lợi cho dinh dưỡng của động vật và cho môi trường. Lân trong hạt ngô có nhiều phytate sẽ làm cho gia súc thuộc nhóm “monogastric” rất khó tiêu hóa, bởi v́ nó thiếu enzyme phytase. Phosphate vô cơ cứ tiếp tục tăng cường vào dạng phosphor khác trong hạt. Phytic acid được biết như một phức có khả năng kềm giữa rất chặt chẽ ion sắt, kẽm, magnesium và potassium, ngăn cản hấp thu các chất khoáng này của động vật. Phytic acid này được động vật thăi ra dưới dạng phân được xem như nguồn gốc ô nhiễm P trong nông nghiệp. Nhờ du nhập gen phyA2 của vi nấm  Aspergillus, các nhà nghiên cứu của Chinese Academy of Agricultural Sciences đă ghi nhận được các ḍng bắp biến đổi gen ổn định trong thể hiện enzyme phytase. Hoạt tính phytase trong hạt bắp chuyển gen cao gấp 50 lần hơn so với giống bắp b́nh thường. Tính chất nông học của các ḍng bắp biến đổi gen vẫn không hề thay đổi và sự thể hiện phytase ổn định qua 4 thế hệ. Xem tạp chí Transgenic Research http://www.springerlink.com/content/ju8241521771j394/fulltext.pdf  hoặc http://www.springerlink.com/content/ju8241521771j394/?p=6a8ab7085bd344d0a3e4d3792ce2655e&pi=2

Phân lập Ectomycorrhizae công sinh trên cây dầu (Yang Tree): Cây dầu (Dipterocarpus alatus) một loài lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao và giá trị sinh học cao làm gỗ xuất khẩu ở Thái Lan, với tên gọi địa phương là cây Yang. Rừng dầu đă bị khai thác và tàn phá từ trước, việc khôi phục và trồng lại rừng dầu được ưu tiên tropng chính sách phát triển. Cây dầu trở nên vô dụng khi nó bị vi nấm ectomycorrhizal cộng sinh. Ectomycorrhizae là sinh vật cộng sinh trên cây cho gỗ, giúp cây hấp thu dinh dưỡng. Nó c̣n giúp cây chống chịu tốt với khô hạn, bảo vệ rễ chống lại bệnh. Tuy nhiên, khả năng sử dụng nấm ectomycorrhizal trong tái sinh rừng yêu cầu một kiến thức đầy đủ về đa dạng sinh học và cách thức cộng sinh giữa cây với nấm. Việc phân lập các symbionts của vi nấm trong ectomycorrhizae sẽ vô cùng cần thiết. Các nhà khoa học thuộc ĐH King Mongkut’s về Công Nghệ ở Thonburi, Thailand, đă phân lập thành công một loài của ectomycorrhizae nhờ khuếch đại và đọc tŕnh tự “large subunit rDNA” của ty thể bộ (mtLrDNA) của vi nấm cộng sinh, và so sánh với tŕnh tự của ngân hàng dữ liệu để phân lập các “symbionts”. Kết quả cho thấy hầu hết các vi nấm có nhiều nhất đều thuộc họ Thelephoraceae (i.e. Tomentella spp.). Đọc chi tiết http://safetybio.agri.kps.ku.ac.th/images/stories/pdf/ectomycorrhizal.pdf

 

TRANG CHỦ  |  Giới thiệu | Chức năng | Tổ chức  |  Nguồn lực  |  Liên hệ Liên kết  |  WEB MAIL  |  ENGLISH

Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long @ 2003

Cờ Đỏ, TP Cần Thơ --- Điện thoại 071-861954; Fax: 071-861457; Email: clrri@clrri.org